163 Tổng các loại bệnh

Hiểu về hội chứng tự kỉ - nguyên nhân và cách điều trị.

Hội chứng tự kỷ được hiểu là gì?

Tự kỷ là bệnh lý biểu hiện những bất thường về chức năng cũng như cấu trúc của não bộ. Từ đó gây ra những rối loạn phát triển lan tỏa ở nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, những khiếm khuyết về giao tiếp hay nhận thức quan hệ nhân sinh, hành vi sở thích lặp đi lặp lại và bị hạn chế. Bệnh tự kỉ thường xảy ra ở trẻ em. Tuy nhiên, ở người lớn, bệnh tự kỉ vẫn có thể xuất hiện. Với trẻ em, cha mẹ có thể nhận thấy những dấu hiệu bệnh tự kỉ của con trong từ 1-2 năm đầu đời trẻ. Bé trai thường mắc bệnh nhiều hơn bé gái. Người mắc chứng tự kỉ dễ bị tổn thương nghiêm trọng ở một số mặt, hoặc cũng có thể ở mức độ bình thường với những cá thể khác.

Có 5 loại tự kỉ lâm sàng:

  • Hội chứng Asperger
  • Tự kỷ Kanner
  • Tự kỷ không điển hình
  • Rối loạn phân rã tuổi thơ
  • Hội chứng Rett

Biểu hiện, triệu chứng của hội chứng tự kỉ

Bệnh thường xảy ra ở trẻ em. Những biểu hiện cha mẹ có thể nhận thấy ở trẻ xuất hiện từ 6 tháng tuổi, kéo dài 2-3 năm và có xu hướng trở nên nghiêm trọng hơn khi trưởng thành.

Những kĩ năng tương tác xã hội ở trẻ tự kỉ thường bị thiếu hụt:

Trẻ có thể không biết chỉ tay, ít giao tiếp bằng mắc, ít cử chỉ giao tiếp, thường chỉ chơi một mình và làm theo ý mình, không tuân theo sự hướng dẫn của người khác, không nhận thức được thái độ hay hành động tình cảm của người khác, không biết chơi những trò chơi có tính quy luật… một số trẻ thường sợ hãi chỗ lạ hoặc người lạ, con thường chú ý đến các đồ vật hơn là mọi người.

Về giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi

Trẻ chậm nói, hoặc ít nói, có thời gian nói được rồi lại ngừng nói, nói vô nghĩa, gọi là bất thường về ngôn ngữ. Trẻ không biết đặt câu hỏi, không nhận thức mình đang nói gì, phát âm không rõ, lơ lớ, ngôn ngữ thụ động, thường nói nhại theo người lớn, có khi hét to vô lý,… Đây là biểu hiện rõ nhất của bệnh tự kỉ mà các cha mẹ nên đưa trẻ đi kiểm tra.

Trẻ thường có thói quen thu hẹp hành vi, hoặc có những ý thích hành vi kì lạ như cười một mình, quay tròn cánh tay, lắc lư, chạy vòng quanh,… ngoài ra trẻ thường tự rập khuôn lặp đi lặp lại những hành vi quen thuộc, chỉ ăn đúng một món, nằm đúng 1 chỗ, luôn lặp lại một trình tự việc quen thuộc.

Một số ý thích thu hẹp xảy ra ở trẻ như khi xem tivi, trẻ chỉ xem quảng cáo, thường xem máy tính bảng và điện thoại nhiều giờ, tay luôn cầm một vật gì đó, có thể là đồ chơi, chai lọ, giấy,… Do không biết nói hoặc thiếu kiềm chế, dễ tức giận, một số trẻ thường khóc ăn vạ. Nguy hiểm hơn, đến 70% trẻ tự kỉ thường không có phản ứng với nguy hiểm như nước nóng hoặc va đập, dễ bị thương.

Những rối loạn cảm giác do thần kinh nhạy cảm hoặc kém nhạt cảm xảy ra ở trẻ như:

Hét lên, bịt tai khi nghe tiếng động to, lẩn trốn ánh sáng, sợ một số mùi, sợ gội đầu hoặc cắt tóc, kén ăn, ăn quá nhanh, chân đi kiễng gót, không cho ai sờ vào người, với những âm thanh quảng cáo, trẻ thường rất nhạy cảm. Ngược lại, một số trẻ có những hành vi kém nhạy cảm như sợ hãi, thích ôm đồ vật, thích được ôm vào lòng, nhìn chăm chú các đồ vật phát ra ánh sáng, thường gõ hoặc ném để tạo ra tiếng động,…

Những biểu hiện khác

Với một số trẻ đặc biệt có khả năng và trí nhớ rất tốt như nhớ số điện thoại, nhớ biển số xe ô tô, xe máy, chơi trò chơi trên máy tính rất giỏi, biết đếm và đọc từ rất sớm, thuộc mặt chữ và bài hát, một số trẻ còn biết tính toán nhẩm rất nhanh… nếu những biểu hiệu này xảy ra cùng 1 lúc (trên 3 biểu hiện), nên đưa trẻ đi kiếm tra, bởi rất nhiều phụ huynh lầm tưởng đây là sự thông minh sớm của trẻ.

Những dấu hiệu chỉ báo nguy cơ tự kỉ ở trẻ em

Trẻ 12 tháng tuổi không biết nói hoặc bập bẹ nói, chưa biết chỉ tay hay có những cử chỉ giao tiếp khác. Trẻ 24 tháng tuổi chưa nói được rõ, mất kĩ năng giao tiếp xã hội.

Khi lớn lên, trẻ thường đi học muộn, không hòa nhập với bạn bè, khó học tập nhất là những môn xã hội. Nhiều trường hợp mắc hội chứng Asperber vẫn có thể học tập và làm việc, nhưng giao tiếp xã hội còn hạn chế, thường sống chủ yếu dựa vào gia đình.

Ngoài ra, bệnh tự kỉ còn xảy ra ở người lớn. Thống kê chỉ ra khoảng 20% trên tổng số các trường hợp tự kỷ ở người lớn vẫn có trí thông minh bình thường, vẫn có khả năng nói và học tập. Tuy vậy giọng nói của người tự kỷ thường đơn điệu, lơ lớ như người nước ngoài. Bệnh nhân tự kỉ gặp khá nhiều khó khăn trong việc giao tiếp cũng như xử lý các mối quan hệ xã hội, họ thường có rất ít bạn và không thích xã giao. Còn lại có hơn 80%  người lớn bị tự kỷ có kèm theo các tình trạng chậm phát triển về tâm thần, động kinh, hay trầm cảm, hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng bức, áo giác nên việc chẩn đoán tình trạng bệnh lúc này sẽ phức tạp hơn.

Nguyên nhân và chuẩn đoán về bệnh tự kỉ

Hiện nay vẫn chưa có xét nghiệm sinh học nào có thể chuẩn đoán được bệnh tự kỉ. Các bác sĩ tâm lý thường cho bệnh nhân làm một số trắc nghiệm tâm lý để đánh giá sự phát triển thần kinh của trẻ dưới 6 tuổi và trí tuệ cho trẻ trên 6 tuổi, ngoài ra còn tiến hành trắc nghiệm cảm xúc, hành vi, thang đo độ tự kỉ.

- Một số nguyên nhân được chỉ ra như sau:

Di truyền học

Tác nhân di truyền được xem như nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh tự kỉ. Trên 90% trường hợp mắc bệnh tự kỉ là do di truyền học, thường là do nhóm gen quy định, có nghĩa là trong gia đình có người mắc bệnh tự kỉ, tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sẽ cao hơn.

Quá trình mang thai

Khi mang thai trẻ, nếu người mẹ mắc phải những virus, hoặc bị cảm cúm, sởi, nhiễm độc sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh của trẻ. Sự thiếu hụt tuyến giáp, sử dụng thuốc an thần, thuốc tá tràng không theo chỉ định của bác sĩ, bệnh đau dạ dày, bệnh đái tháo đường, hoặc nhiễm thuốc trừ sâu khi mang thai cũng là những nguyên nhân dẫn đến bệnh tự kỉ ở trẻ.

Nguyên nhân khác

Cha mẹ bận rộn thường xuyên không gần gũi, chăm sóc trẻ, khiến trẻ cảm thấy cô đơn, để trẻ xem ti vi hoặc sử dụng smartphone quá nhiều cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh tự kỉ ở trẻ.

Những lưu ý trong điều trị bệnh tự kỉ

Vì bệnh tự kỉ là vấn đề tâm lý của trẻ nhỏ, nên cha mẹ, gia đình, người thân đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phục hồi và hòa nhập với xã hội. Hãy nhanh chóng vượt qua cú sốc, cân bằng lại, lập ra kế hoạch để tiếp tục chiến đấu cùng trẻ. Kiên trì tác động nhiều phương pháp đến trẻ như dạy trẻ những kĩ năng giao tiếp hoặc vận động từ những điều nhỏ nhất, quản lý chặt chẽ hành vi của trẻ, trị liệu kết hợp với chơi trò chơi, dạy cho trẻ những kĩ năng xã hội cần thiết, để trẻ biết tự lập,…Hãy cố gắng thấu hiểu những mong muốn của trẻ thông qua những hành vi của các em, luyện tập cho trẻ từ mức độ dễ đến khó, không nên ép trẻ học quá nhanh hoặc quá nhiều. Khi trẻ đã có biến chuyển tốt hơn, có thể dạy trẻ những kĩ năng phát triển toàn diện ở mức khó hơn như hoạt động cảm giác, dạy trẻ ghi nhớ, nhận thức, để trẻ hoạt động chung với bạn bè và những người xung quanh. Nên phát hiện bệnh sớm trược 5 tuổi để có thể can thiệp tâm lý cũng như điều trị giúp đỡ trẻ. Đặc biệt cha mẹ nên kiên trì, dành nhiều thời gian cho trẻ, chơi với trẻ, cùng trẻ tham gia hoạt động xã hội, hãy thông báo cho những người xung quanh về tình hình của trẻ để con được giúp đỡ tốt nhất, thường xuyên đưa trẻ đi khám định kì, trao đổi với bác sĩ tâm lý về tình hình của trẻ. Đây là căn bệnh tâm lý cần nhiều thời gian, những bậc phụ huynh nên chuẩn bị tâm lý để có thể làm chỗ dựa và nắm tay các con vượt qua nó.

Với những người trưởng thành, bệnh tự kỉ khá khó chữa, hãy đưa họ đến gặp bác sĩ tâm lý, để các nhà chuyên môn đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của bệnh nhân, từ đó đưa ra định hướng chữa trị. Đừng cách li họ ra khỏi cộng đồng, hãy để họ được sống và sinh hoạt như bình thường nếu có thể, khi biết được điểm mạnh của bệnh nhân, người nhà cũng như những người xung quanh nên để họ được làm việc. Hãy quan tâm đến họ nhiều hơn, nên kiên trì nói chuyện với họ, từ đó hướng dẫn bệnh nhân các cách giao tiếp và xử lý vấn đề xã hội, có thể chơi những trò chơi nhẹ nhàng để vận động trí tuệ như đố vui, cờ vua, cờ tướng,…

Bên cạnh đó, cần bổ sung dưỡng chất đến từ thức ăn hàng ngày để có năng lượng giảm bệnh. Người mắc bệnh tự kỉ nên được ăn những thực phẩm chứa nhiều Vitamin A có trong bơ, trứng, cà rốt, bí, rau xanh, bắp cải,…khẩu phần ăn nhiều rau xanh và uống nước từ các loại hoa quả như bưởi, cam, quýt,…Bên cạnh đó cần bổ sung các loại ngũ cốc hạt, nên dùng sữa hạt cho trẻ, những thực phẩm từ cá, thịt da cầm, đỗ chứa Vitamin B6. Đặc biệt khẩu phần ăn nên có nhiều hành tây, tỏi, dầu oliu, để kháng khuẩn, chống các loại virus và tăng mùi vị, kích thích vị giác của trẻ. Hạn chế cho trẻ uống nước có ga, nên dùng nước khoáng. Lưu ý không nên ép trẻ ăn, tạo cảm giác khó chịu, nếu muốn cho trẻ ăn những món ăn dinh dưỡng nhưng trẻ không thích, hãy một chút với món trẻ đang thích, để bé quen dần với mùi vị rồi tăng dần lên. Nên chọn cho bệnh nhân tự kỉ khẩu phần ăn giàu dinh dưỡng và kích thích quá trình hồi phục bệnh.

Mong rằng một số thông tin về bệnh tự kỉ sẽ giúp ích cho quý độc giả trong việc chăm sóc sức khỏe bản thân, gia đình và đặc biệt là trẻ em. 

*Nội dung bình luận không được để trống và phải có ý nghĩa và không quá ngắn dưới 30 ký tự.

Bạn hãy xem lại nội dung câu hỏi trước khi gửi. Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu. Nội dung dài hơn 30 ký tự. Các thông tin về triệu chứng, thời gian phát bệnh, quá trình khám chữa trước đây (nếu có)... sẽ rất hữu ích cho bác sĩ.

Tiếp theo, vui lòng cung cấp thêm thông tin về bệnh nhân để bác sĩ có thể tư vấn cụ thểnhất.

Bạn vẫn có thể sửa lại nội dung câu hỏi trong vòng 1 giờ kể từ thời điểm gửi đi.

Bạn phải đăng kí là thành viên của hỏi bác sĩ.

*Họ tên không được để trống.
*Email không được để trống.
*Số điện thoại không được để trống.
*Điạ chỉ không được để trống.