163 Tổng các loại bệnh

Gảm tiểu cầu là gì? Nguyên nhân gây giảm tiểu cầu

Giảm tiểu cầu là gì?

Trước khi tìm hiểu giảm tiểu cầu là gì bạn phải hiểu tiểu cầu là gì? Tiểu cầu là một thành phần của máu cùng với bạch cầu và hồng cầu. Tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu và chảy máu. Tiểu cầu được sinh ra từ tủy xương giống như các tế bào khác trong máu như bạch cầu và hồng cầu. Tiểu cầu có nguồn gốc từ các tế bào nhân khổng lồ, được tìm thấy trong tủy xương. Những mảnh vỡ của tế bào này được giải phóng vào máu và hình thành tiêu cầu. Tiểu cầu lưu thông chiếm 2/3 lượng tiểu cầu giải phóng ra từ tủy xương, 1/3 còn lại được lưu trữ (cô lập) trong lá lách.

Các tiểu cầu có đời sống ngắn, thường từ 7-10 ngày trong máu. Sau đó chúng loại bỏ hoàn toàn khỏi dòng máu lưu thông. Số tiểu cầu trong máu được gọi là số tiểu cầu, bình thường từ 150000 đến 450000 trong một microlit máu (một phần triệu lít).

Giảm tiểu cầu là số tiểu cầu trong máu giảm hơn mức bình thường (nhỏ hơn 150000).

Chức năng của tiểu cầu rất cần thiết trong quá trình đông máu. Chúng lưu thông trong mạch máu và trở nên kích hoạt khi có sự chảy máu hay tổn thương nào trong cơ thể. Một số chất được giải phóng từ các mạch máu bị tổn thương hay các cấu trúc khác là tín hiệu kích hoạt các tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu để ngăn sự chảy máu. Khi được kích hoạt các tiểu cầu trở lên dính và kết lại với nhau và kết dính lại với thành mạch tại chỗ bị tổn thương để làm chậm lại và ngưng lại quá trình chảy máu bằng cách bít lại mạch máu hay mô bị tổn thương (quá trình cầm máu).

Lưu ý rằng, số lượng tiểu cầu giảm trong giảm tiểu cầu song chức năng của tiểu cầu vẫn bình thường. Khác với các rối loạn khác thì có thể làm giảm chức năng tiểu cầu mặc dù số lượng tiểu cầu bình thường. Số lượng tiểu cầu giảm thấp nghiêm trọng có thể dẫn đến chảy máu tự phát và làm chậm quá trình đông máu bình thường. Giảm tiểu cầu trông trường hợp nhẹ có thể không ảnh hưởng đến quá trình đông máu và chảy máu.

Nguyên nhân gây giảm tiểu cầu?

Số lượng tiểu cầu giảm có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Các nguyên nhân này được chia làm ba nhóm

·         Giảm sản xuất tiểu cầu.

·         Tăng tiêu thụ hoặc tiêu hủy tiểu cầu.

·         Tăng sự cô lập tiểu cầu trong lách.

Sau đây là một số nguyên nhân phổ biến và quan trọng:

Giảm sản xuất tiểu cầu:

Giảm sản xuất tiểu cầu thường liên quan đến một số vấn đề về tủy xương (chứng mất bạch cầu hạt). Trong trường hợp này thì hồng cầu và bạch cầu cũng bị ảnh hưởng.

·         Nhiễm virus ảnh hưởng đến tủy: parvvirus, rubella, quai bị, thủy đậu, viêm gan C, Epstein-Barr virus và HIV.

·         Thiếu máu bất sản là bệnh mà tủy xương không sản xuất ra bất kì một tế bào máu nào bao gồm cả hồng cầu và bạch cầu, hay còn gọi là giảm toàn thể huyết cầu. Bệnh này có thể gây ra do nhiễm virus parvovirus hay HIV, do dùng thuốc (thuốc vàng, chloramphenicol, Dilantin, valproate) hoặc do bức xạ và hiếm khi có thể là bệnh bẩm sinh (bệnh thiếu máu Fanconi).

·         Hóa trị liệu thường xuyên dẫn đến ức chế tủy xương làm giảm tiểu cầu.

·         Do dùng thuốc ví dụ như thuốc lợi tiểu thiazide làm ức chế sản xuất tiểu cầu.

·         Ung thư tủy xương hay ung thư máu (bệnh bạch cầu ác tính) hay ung thư bạch huyết.

·         Ung thư từ các cơ quan khác di căn sang ung thư tủy xương.

·         Uống rượu trong thời gian dài gây độc tính đến tủy xương.

·         Thiếu vitamin B12 và axit folic làm tủy xương giảm sản sinh tiểu cầu.

Tăng tiêu thụ hoặc phá hủy tiểu cầu

Tăng tiêu thụ hoặc phá hủy tiểu cầu có thể do các nguyên nhân liên quan đến miễn dịch hoặc không liên quanđến miễn dịch.

Một số loại thuốc có thể gây ra giảm tiểu cầu do gây ra các phản ứng miễn dịch chống lại tiểu cầu và được gọi là thuốc gây giảm tiểu cầu:

·         Kháng sinh sulfonamide:

+ carbamazepine

+ digoxin

+ quinine

+ quinidine

+acetaminophen

+ rifampin

·         Heparin gây ra phản ứng miễn dịch chống lại tiểu cầu làm phá hủy nhanh chóng tiểu cầu. Hiện tượng này gọi là giảm tiểu cầu do heparin hay HIT.

·         Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn

Đây là một bệnh trong đó hệ thống miễn dịch tấn công các tiểu cầu. Bệnh này rất nguy hiểm có thể làm tiểu cầu giảm rất thấp. Ở người lớn, bệnh thường là mãn tính. Trong khi đó, ở trẻ em bệnh có thể cấp tính sau nhiễm virus.

·         Lupus ban đỏ hệ thống hoặc các bệnh tự miễn khác

·         Truyền máu hoặc cấy ghép cơ quan nội tạng có thể rối loạn miễn dịch dẫn đến giảm tiểu cầu.

·         Ban xuất huyết giảm tiểu cầu do huyết khối và hội chứng tan huyết ure máu.

·         Hội chứng HELLP (tan huyết, tăng men gan, tiểu cầu thấp).

·         Rối loạn đông máu nội mạch.

·         Tổn thương hoặc viêm mạch máu. Đôi khi van tim nhân tạo có thể gây tăng phá hủy tiểu cầu khi chúng đi ngang qua.

·         Nhiễm trùng huyết.

Cô lập tiểu cầu ở lách

Cô lập tiểu cầu ở lách làm giảm số lượng tiểu cầu trong máu do kết quả của sự phì đại lá lách bởi các nguyên nhân khác nhau. Khi lá lách to, nó giữ lại hay gọi là cô lập nhiều hơn số lượng tiểu cầu bình thường. Lý do phổ biến của giảm tiểu cầu do lách phì đại có thể bao gồm bệnh gan tiến triển (xơ gan, viêm gan B, viêm gan C). và ung thư máu.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như:

·         Giảm tiểu cầu Dilutional có thể là kết quả của sự chảy máu nghiêm trọng hoặc do truyền vài đơn vị máu trong một thời gian ngắn.

·         Giảm tiểu cầu giả do trong một số trường hợp số lượng tiểu cầu được tìm thấy trên một tổng phân tích tế bào máu thấp giả do có một số lượng tiểu cầu kết dính với nhau.

·         Giảm tiểu cầu từ lúc mới sinh do di truyền.

Điều trị giảm tiểu cầu như thế nào?

Giảm tiểu cầu là một bệnh nguy hiểm nhưng không phải bệnh nan y, bệnh có thể có biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị đúng cách. Khi xuất hiện các triệu chứng như thầm quầng, sưng tấy, xuất huyết (răng, mũi, ngoài da), đau đầu không rõ nguyên nhân bạn nên nhập viện để kịp thời điều trị.

Bệnh nhân cần giảm tối đa các nguy cơ chảy máu bằng việc hạn chế vận động mạnh, không ăn mía, xương, các thức ăn cứng dễ gây chảy máu, không đánh răng hoặc xỉa răng… để tránh nguy hiểm mà bệnh đem lại.

Truyền tiểu cầu: đây chỉ là phương pháp điều trị tạm thời để cầm máu hoặc đề phòng xuất huyết. Bạn cần khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân và điều trị nguyên nhân hiệu quả.

Trong trường hợp bệnh nhân giảm tiểu giảm tiểu cầu vô căn thường dùng thuốc nhóm corticoid.

Cắt lách có thể được chỉ định khi bệnh trở thành mạn tính, phải phụ thuộc corticoid hoặc không đáp ứng với thuốc. Sau khi cắt lách, nếu có tái phát, có thể dùng phối hợp các thuốc ức chế miễn dịch như immuran, vincristin, endoxan…

Các bệnh nhân giảm tiểu cầu vô căn không phải do di truyền, thường hay tái phát nhiều lần nên muốn điều trị ổn định, bệnh nhân cần phải có kế hoạch khám định kì hàng tháng.

Các thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, nếu có bất kì thắc mắc nào bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được các bác sĩ trực tiếp thăm khám và điều trị.

*Nội dung bình luận không được để trống và phải có ý nghĩa và không quá ngắn dưới 30 ký tự.

Bạn hãy xem lại nội dung câu hỏi trước khi gửi. Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu. Nội dung dài hơn 30 ký tự. Các thông tin về triệu chứng, thời gian phát bệnh, quá trình khám chữa trước đây (nếu có)... sẽ rất hữu ích cho bác sĩ.

Tiếp theo, vui lòng cung cấp thêm thông tin về bệnh nhân để bác sĩ có thể tư vấn cụ thểnhất.

Bạn vẫn có thể sửa lại nội dung câu hỏi trong vòng 1 giờ kể từ thời điểm gửi đi.

Bạn phải đăng kí là thành viên của hỏi bác sĩ.

*Họ tên không được để trống.
*Email không được để trống.
*Số điện thoại không được để trống.
*Điạ chỉ không được để trống.