163 Tổng các loại bệnh

Bệnh cường giáp là bệnh gì? Nguyên nhân và cách điều trị

Bệnh cường giáp là bệnh gì?

Cường giáp hay còn gọi là hyperthyroidism là tình trạng tăng hormon tuyến giáp trong máu do hoạt động quá mức của tuyến giáp, từ đó gây ra những tổn hại về mô chuyển hóa hay còn gọi là nhiễm độc giáp.

Nguyên nhân gây bệnh và cơ chế

Tuyến giáp là một trong những tuyến có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. mọi quá trình trao đổi chất trong cơ thể đều được quy định bởi hormon tuyến giáp.

Các nhà khoa học đã chỉ ra 2 nguyên nhân chính gây bệnh cường giáp đó chính là bệnh Basedow và bệnh bướu cổ đa nhân nhiễm độc.

Bệnh basedow (bệnh grave)

Basedow là nguyên nhân hay gặp nhất của cường giáp, đặc biệt ở các bệnh nhân trẻ tuổi, tuổi từ 20-40. Rối loạn này có thể gây lồi mắt, phù niêm trước xương chày. Ngoài ra, các nhà khoa học đã chứng minh rằng, basedow là một bệnh tự miễn có liên quan đến sự rối loạn của lympho T ức chế do thiếu hụt Ts làm cho Th kích thích lympho B tăng tổng hợp tự kháng thể.

Các tự kháng thể gồm: kháng thể thyroglobulin, tự kháng thể TSH và các yếu tố kích thích liên tục tuyến giáp (Thyroid Stimulating Immunoglobulin) liên quan đến tiến triển của bệnh và bệnh lồi mắt.

Sự xâm nhập của các tế bào lympho vào mô tuyến giáp gây, cơ vận nhãn và vùng trước xương chày.

Có thế kèm theo các bệnh tự miễn khác như viêm đa khớp dạng thấp, Lupus ban đỏ hệ thống, đái tháo đường typ 1, thiếu máu ác tính…

Bệnh có yếu tố di truyền

Bệnh bướu giáp đa nhân nhiễm độc

Tuyến giáp xuất hiện các nhân nằm ở một thùy, nhân này là các nang giáp tăng cường tổng hợp các hormon tuyến giáp và ức chế các mô lành xung quanh cũng như ức chế tuyến yên giảm tiết TSH.

Ngoài 2 nguyên nhân chính là bệnh basedow, bệnh bướu giáp đa nhân nhiễm độc, còn có các nguyên nhân khác như u tuyến giáp, viêm tuyến giáp, ăn quá nhiều iod, viêm tuyến yên.

Các triệu chứng của cường giáp

Biểu hiện bệnh là các tổn thương ở mô và rối loạn chuyển hóa do dư thừa hormon tuyến giáp.

Bệnh thể hiện rõ ở tứ chứng: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều.

Cơ thể mệt mỏi, gầy sút cân nhanh chóng mặc dù ăn rất nhiều, ăn ngon miệng.

Cảm giác khát nhiều mặc dù có uống nhiều nước.

Rối loạn điều hòa thân nhiệt như sốt nhẹ 37,5-38 độ C, bệnh nhân thường sợ nóng, da và bàn tay ấm nóng, ẩm ướt.

Xuất hiện bướu cổ.

Trên tim mạch: nhịp tim tăng nhanh thường xuyên (>100 nhịp/phút), tăng lên khi xúc động, hay hồi hộp, đánh trống ngực. Huyết áp tăng cao, hiệu số huyết áp cao. Có thể dẫn đến rung nhĩ, suy tim do tăng cung lượng tim.

Trên thần kinh: bệnh nhân hay lo lắng, bồn chồn, tính khí hay thay đổi, dễ cáu. Hay mất ngủ, trầm cảm hoặc rối loạn tâm thần. Run chân tay, đặc biệt ở các đầu ngón tay với tần số cao và biên độ thấp.

Rối loạn vận mạch: mặt đỏ bừng, hay vã mồ hồ.

Trên tiêu hóa: tăng nhu động dạ dày ruột gây tiêu chảy nhưng không có đau quặn (tiêu chảy 5-10  lần/ngày)

Cơ xương khớp: làm tăng phản xạ gân xương và rung cơ. Co cơ mí mắt.

Da: gây phù niêm mạc trước xương chày.

Ngoài ra, đối với bệnh nhân basedow bệnh còn biểu hiện:

Bướu giáp: phì đại lan tỏa ở nhiều mức độ, mật độ mềm, không có nhân, bướu mạch.

Lồi mắt: mắt lồi một bên hoặc hai bên. Kèm thêm chói mắt, chảy nước mắt, lóa. Có thể viêm củng mạc mắt và phù nề quanh hốc mắt.

Điều trị cường chức năng tuyến giáp

Mục tiêu và nguyên tắc điều trị

Mục tiêu đầu tiên là đưa bệnh nhân về  tình trạng bình giáp.

Duy trì trạng thái bình giáp.

Dự phòng và điều trị các biến chứng nếu có.

Lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp đối với từng bệnh nhân cụ thể.

Có 3 phương pháp điều trị cơ bản bao gồm: Nội khoa, phẫu thuật tuyến giáp hoặc điều trị bằng phóng xạ.

Phương pháp điều trị nội khoa             

Dùng thuốc ngăn tổng hợp hormon tuyến giáp là dẫn chất của ethionamid

gồm hai phân nhóm chính:

  • Phân nhóm thiouracil (benzylthiouracil – BTU 25mg; methylthiouracil – MTU 50mg, 100mg; propylthiouracil – PTU 50mg, 100mg).
  • Phân nhóm imidazol: methimazole carbimazole (neomercazole), hàm lượng 5mg.

Tác dụng ức chế tổng hợp hormon tuyến giáp của phân nhóm imidazol mạnh hơn phân nhóm thiouracil khoảng 7 - 15 lần (trung bình 10 lần), đồng thời tác dụng cũng kéo dài hơn (thời gian bán thải của imidazol 6 là giờ trong khi thiouracil là 1,5 giờ); cho nên khi dùng liều trung bình có thể chỉ sử dụng 1 lần/ngày. Nhưng thường phân nhóm thiouracil lại ít gây dị ứng hơn. Thuốc có khả năng gắn mạnh vào protein hơn nên ít ngấm qua nhau thai và sữa nên có thể dùng cho người bệnh mang thai hoặc cho con bú.

Liều lượng và cách dùng: liều điều trị và liều độc có khoảng cách khá lớn nên độ an toàn cao.

Liều thuốc kháng giáp tổng hợp khác nhau tùy giai đoạn điều trị:

  • Giai đoạn điều trị tấn công: kéo dài trung bình từ 6 - 8 tuần. Khi đã xác định chắc chắn cường giáp, nên dùng ngay liều trung bình hoặc liều cao. Sau 10 - 20 ngày, nồng độ hormon tuyến giáp mới bắt đầu giảm, và sau 2 tháng mới giảm rõ để có thể đạt được trạng thái bình giáp.

Methimazole: 20 - 30 mg/ngày, chia làm 2 lần/ngày

PTU: 400 - 450 mg/ngày chia 3 lần.

Ở Nhật Bản sử dụng liều ban đầu methimazol là 30 - 60mg/ngày; PTU là 300 - 600 mg/ngày; chia 3 - 4 lần trong ngày.

  • Giai đoạn điều trị duy trì: kéo dài từ trung bình 18 - 24 tháng. Trong giai đoạn này, liều thuốc giảm dần mỗi 1-2 tháng dựa vào sự cải thiện của các triệu chứng.  Methimazol mỗi lần giảm 5-10mg; liều duy trì 5-10mg/ngày. PTU mỗi lần giảm 50-100 mg; liều duy trì 50-100mg/ngày. Liều tấn công và duy trì cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của bệnh và đáp ứng của từng người bệnh, tùy thuộc vào độ lớn của tuyến giáp, nồng độ hormon tuyến giáp và TRAb. Sau 6-8 tuần đầu của giai đoạn điều trị tấn công, nếu các triệu chứng giảm dần về mức bình thường và đạt được tình trạng gọi là bình giáp thì coi như đã kết thúc giai đoạn tấn công.

Tiêu chuẩn bình giáp:

  • Hết các triệu chứng cơ năng.
  • Nhịp tim bình thường.
  • Tăng cân hoặc trở lại cân trước khi bị bệnh.
  • Chuyển hóa cơ bản < 20%.
  • Nồng độ T3, T4 (FT4) trở lại bình thường. Nồng độ TSH sẽ vẫn ở mức thấp kéo dài vài tháng khi mà nồng độ T3, T4 đã trở về bình thường.

Khi nào ngừng điều trị các thuốc kháng giáp tổng hợp: nếu tình trạng bình giáp được duy trì liên tục trong suốt thời gian điều trị thì sau 18 đến 24 tháng có thể ngừng. Kết quả điều trị: 60-70% khỏi bệnh. Có khoảng 30-40% bị tái phát sau khi ngừng điều trị vài tháng. Điều trị thời gian quá ngắn, hoặc không liên tục thường là nguyên nhân tái phát của bệnh.

Những yếu tố cho phép tiên lượng bệnh tốt là:

  • Khối lượng tuyến giáp nhỏ đi.
  • Liều duy trì cần thiết còn rất nhỏ (thiouracil ≤ 50mg; hoặc imidazole ≤ 5mg).
  • Nghiệm pháp Werner (*) trở lại.
  • Trong huyết thanh không còn hoặc còn rất ít TRAb.

I131 tại giờ thứ 24 < 30%.

Lưu ý các thuốc kháng giáp trạng có rất nhiều tác dụng không mong muốn, việc điều trị bệnh cường giáp cần tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Bệnh nhân nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc và cần tái khám định kì để được theo dõi tình trạng sức khỏe tốt nhất.

Ức chế β giao cảm

Có tác dụng ức chế hoạt động của thần kinh giao cảm, ức chế quá trình chuyển ngược từ T4 về T3 ở ngoại vi. Thuốc có tác dụng sớm sau vài ngày sử dụng, giảm nhanh một số triệu chứng như hồi hộp, đánh trống ngực, run tay, bồn chồn, ra nhiều mồ hôi… Với liều trung bình, thuốc làm giảm nhịp tim song không gây hạ huyết áp.

Thuốc có tác dụng ở ngoại vi nên không giảm được cường giáp, vì vậy phải luôn kết hợp với thuốc kháng giáp tổng hợp. Trong các thuốc chẹn β giao cảm, propranolol được khuyến cáo dùng rộng rãi nhất (Perlemuter - Hazard), liều 20-80 mg mỗi 6-8 giờ do tác dụng của thuốc nhanh nhưng ngắn, có thể dùng 4 - 6 lần/ ngày.

Không dùng trong trường hợp bệnh nhân bị hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Thuốc được dùng trong giai đoạn điều trị tấn công. Có thể dùng thay thế bằng metoprolol 1 lần/ngày do thuốc có tác dụng kéo dài. Nếu có chống chỉ định với chẹn β giao cảm, có thể thay thế bằng thuốc chẹn kênh calci như diltiazem liều 180 - 360mg/ngày chia 4 - 6 lần.

Kết hợp thuốc kháng giáp tổng hợp với thyroxin

Việc phối hợp giúp duy trì nồng độ TSH ở mức thấp (khoảng 0,05 - 0,1µUI/ml) sẽ giảm được nguy cơ bùng nổ tự kháng nguyên cùng với tác dụng giảm hoạt tính của TRAb.

Dự phòng suy giáp do thuốc kháng giáp tổng hợp.

Liều lượng thyroxin trung bình 1,8µg/kg/ngày, thường chỉ định trong giai đoạn điều trị duy trì sau khi đã bình giáp. Để dự phòng TRAb tái tăng trở lại có thể duy trì thyroxin đơn độc 2 - 3 năm sau khi đã ngừng thuốc kháng giáp tổng hợp. Khi dùng thyroxin phối hợp, nồng độ TRAb giảm được ở 60 - 70% người bệnh. Methimazol thường được chỉ định kết hợp với thyroxin hơn là PTU.

Corticoid

Tuy bệnh Basedow có cơ chế tự miễn dịch, song trong điều trị, bản thân thuốc kháng giáp tổng hợp cũng đã có tác dụng ức chế miễn dịch, do vậy corticoid và các thuốc điều biến miễn dịch khác không có chỉ định dùng trong phác đồ điều trị thường quy.

Corticoid chỉ định dùng ở người bệnh Basedow khi:

Có chỉ định áp dụng bổ sung các biện pháp điều trị lồi mắt, khi đó dùng liều cao đường uống hoặc tiêm truyền, thậm chí dùng liều xung (pulse - therapy).

Dùng phối hợp khi xuất hiện cơn bão giáp.

 Điều trị phù niêm trước xương chày.+Khi người bệnh có dị ứng với thuốc kháng giáp tổng hợp.

Các thuốc khác

Thuốc an thần, trấn tĩnh: hay dùng seduxen dạng uống khi có chỉ định trong giai đoạn tấn công.

Điều trị thuốc hỗ trợ và bảo vệ tế bào gan suốt thời gian dùng thuốc kháng giáp.

Bổ sung các vitamin và khoáng chất.

Điều trị ngoại khoa bệnh Basedow

Ngoài ra tùy thuộc vào từng bệnh nhân, các trường hợp cụ thể mà có các cách điều trị khác nhau. Bệnh nhân nên đi khám và điều trị dưới sự theo dõi của bác sĩ.

Các biến chứng có thể gặp

Suy tim

Rung nhĩ.

Cơn bão giáp hay còn gọi là bão tố giáp: thường hiếm gặp

Viêm gan sau đó có thể xơ gan.

Nhìn đôi, mất thị lực do lồi mắt.

Suy giáp hoặc ung thư tuyến giáp.

Ngoài ra, tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh cụ thể sẽ có cách điều trị khác nhau. Bệnh nhân nên đến khám bác sĩ để được tư vấn trực tiếp.

*Nội dung bình luận không được để trống và phải có ý nghĩa và không quá ngắn dưới 30 ký tự.

Bạn hãy xem lại nội dung câu hỏi trước khi gửi. Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu. Nội dung dài hơn 30 ký tự. Các thông tin về triệu chứng, thời gian phát bệnh, quá trình khám chữa trước đây (nếu có)... sẽ rất hữu ích cho bác sĩ.

Tiếp theo, vui lòng cung cấp thêm thông tin về bệnh nhân để bác sĩ có thể tư vấn cụ thểnhất.

Bạn vẫn có thể sửa lại nội dung câu hỏi trong vòng 1 giờ kể từ thời điểm gửi đi.

Bạn phải đăng kí là thành viên của hỏi bác sĩ.

*Họ tên không được để trống.
*Email không được để trống.
*Số điện thoại không được để trống.
*Điạ chỉ không được để trống.